2849 South White Road, San Jose, CA 95148 -  Điện Thoại: (408) 758-8824 - Email: ttcgvnsj@gmail.com


Trung Tâm Công Giáo Việt Nam là ngôi nhà chung của người Công Giáo Việt Nam thuộc Giáo Phận San Jose, được thiết lập với mục đích đáp ứng các nhu cầu về mục vụ, văn hóa và xã hội trong cộng đồng địa phương.  Tôn chỉ hoạt động của Trung Tâm là trung thành với truyền thống Đức Tin Công Giáo, bảo tồn văn hóa Việt Nam, quảng bá Tin Mừng Chúa Ky-Tô, cũng như củng cố tình liên đới và hợp tác giữa các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam trong giáo phận.


Tu Là Cội Phúc Tình Là Giây Oan?

Lm. Nguyễn Văn Thư






Tác giả Nguyễn Du, trong tập Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều), đã mượn lời sư Giác Duyên để phát biểu như trên, cơ hồ muốn đề xướng một triết thuyết về nhân sinh. Triết thuyết này đã vô tình đi vào đời sống và tâm thức dân gian qua bao thế kỷ. Quả thật, người ta đã thuộc lòng câu trên đây như thuộc một đoạn ca dao phổ thông.


Nhưng, thật là buồn: hình như đa số đã hiểu lầm tư tưởng của Tố Như tiên sinh khi họ cứ đòi hiểu TU phải là xuất gia, phải vô chùa, phải cạo đầu cắt tóc để mặc vào bộ áo nâu xồng.  Thế là tác giả Vân Hạc Văn Hoè đã một lần phải lớn tiếng thanh minh cho Nguyễn Du, nói rằng TU đây là tu sửa đức hạnh, tu chí làm ăn, tu tâm luyện tính, ở theo đạo đức và siêng việc chức nghiệp. Đó là cội nguồn của hạnh phúc, là gốc rễ của mọi may mắn và sung sướng trên đời.


Dĩ nhiên ta phải đồng ý và cụ Vân Hạc để thấy trắng đen rõ mười mươi. Tác giả tập 'Truyện Kiều chú giải' còn phân tích thêm rằng, theo một khía cạnh nào đó, chữ TU đây chỉ là ngược lại với chứ TÌNH bởi vì TÌNH thường nặng về tình cảm và nhẹ về đạo lý.  Do đó TÌNH thường là mối giây oan nghiệp buộc lấy mình và là căn nguyên của nhiều tai hoạ, lầm lạc.


Có lẽ cũng để phụ hoạ với cụ Vân Hạc mà ông bà chúng ta vẫn thường đọc:

Thứ nhất là tu tại gia
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.


Cái lý do người bình dân thường hiểu đi tu là phải lìa xa cõi 'tục' là vì sống giữa cõi tục, cái chuyện tu thân luyện đức được coi là quá khó, khó đến độ như thể vô phương thực hiện.


Đã đành nhân chi sơ tính bản thiện, nhưng dẫu tính có thiện, lòng có quảng đại khoan dung mấy đi nữa, mà tháng năm thường xuyên phải va chạm với những chuyện tranh chấp cỏn con và triền miên lăn lộn trong những cái ham hố tầm thường, đã mấy ai giữ được tâm tư không bị xao xuyến, giao động!


Để rồi, suy hơn tính thiệt, một số người đã tìm cách thoát tục.


Ở Việt Nam, đạo Phật đã mở đường cho giải pháp “thoát ly” này bằng những ngôi chùa sẵn sàng mở cửa từ bi cho mọi giới.






Nhiều kẻ xuống tóc đi tu vì từ lâu vẫn ấp ủ một cuộc sống thanh cao huyền nhiệm hay bởi say mê đạo pháp thâm sâu của đấng Như Lai.


Nhiều kẻ lại muốn xuất gia lên chùa chỉ vì thán phục vị Hoà thượng trụ trì với đức độ và tài năng trổi vượt. Huyền thoại về những ngôi chùa nổi danh với các bậc thiền sư hiền từ nhưng võ nghệ rất cao cường, theo mẫu mực phổ thông bên Trung quốc, vẫn còn được nhắc đến trên cửa miệng dân gian.


Nhiều kẻ khác muốn đem thân lên nương náu cửa thiền chỉ vì chuyện đời quá éo le, hoặc tình duyên quá phũ phàng với họ. Truyện tình 'Lan và Điệp' đã từng là một ví dụ điển hình đến độ gây xót thương xúc động, và giới văn nghệ sĩ đã không ngớt lấy làm đề tài sáng tác. Nhà văn Khái Hưng với 'Hồn Bướm Mơ Tiên' cũng đưa ra trường hợp đắng cay não lòng của 'chú tiểu’ Lan phải ẩn thân nơi chùa Long Giáng Bắc Ninh.


Đại để cái ý nghĩa Đi TU bên Đông phương mình là như thế. Người Nhật Bổn hay Trung Hoa cũng không khác là bao nhiêu.


Chữ TU nghiễm nhiên phải kèm theo chuyện xuất gia. Nó lại thường mang ý nghĩa giải thoát, tiêu cực.


Các nước bên Tây phương, được thấm nhuần tư tưởng Thiên chúa giáo, hầu hết có cái nhìn tích cực hơn về đời người. Ở những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Ky Tô giáo, việc bỏ nhà đi tu được coi như rất hoạ hiếm. Dần dà, tư tưởng tu đức thời trung cổ đã nhào nặn nên một số nhà ẩn sĩ, và rồi những vị 'thánh sống' thời danh đã quy tụ được nhiều môn đệ, lập thành những tu viện nhằm giúp nhau tu thân tích đức. Ngày sống của họ chỉ là liên tục cầu nguyện, chiêm niệm, hát xướng thánh vịnh và cùng làm việc chân tay.


Với thời gian, các tu viện này có một chỗ đứng vững vàng trong hệ thống tôn giáo, để rồi người ta đánh giá các tu sĩ rất cao, coi họ như những vị anh hùng trong việc làm vinh danh Thiên Chúa và xây dựng 'Nước Trời' ngay tại trần gian này.


Đã có một thời, người ta coi nhẹ những sinh hoạt thế tục và đề cao các lời dạy dỗ cách ngôn của sách thánh Cựu ước : Mọi sự chỉ là phù vân! Rồi nữa, họ thực hành theo đúng nghĩa đen lời khuyên của Đức Ky tô: Nếu các con muốn nên trọn lành, hãy về bán mọi của cải sản nghiệp rồi phân phát hết cho người nghèo và đến theo làm môn đệ ta.


Cũng có một thời, người ta dùng tập 'Gương Chúa Giê Su’ làm sách gối đầu giường để rồi còn đi xa hơn chính tác giả là Thomas Kempis trong việc tuyệt đối chú tâm để lo ăn chay đánh tội: Khoa tu đức chỉ toàn là hy sinh, hãm mình, thập giá, khiêm cung, chuẩn bị chết lành, khinh chê của đời, xa lánh trần gian. Kết quả là thấy xuất hiện những vị thánh như Si Mong Cột sống trọn đời trên một cột đá lửng lơ giữa trời!


Khuynh hướng tu đức 'hãm mình từ bỏ' đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng giáo sĩ là giới có bổn phận thường xuyên tiếp xúc để hướng dẫn sinh hoạt tinh thần và tôn giáo của dân chúng. Người ta bắt đầu lên tiếng đề nghị các Giám mục và Linh Mục nên sống độc thân, vì bậc độc thân được coi là cao hơn bậc sống đôi bạn, nhất là bởi thấy chuyện gia đình vợ con dễ làm phiền toái cho công việc phục vụ Giáo hội đắc lực hoàn toàn.




Thế là các vị Tư Tế của thời Tân Ước, dầu muốn dầu không, cũng được mời đi vào lối sống mới: Ngoài hai lời khấn hứa vâng phục bề trên và sống đời đạm bạc khó nghèo, các ngài còn phải sẵn sàng tình nguyện giữ độc thân cho tới cuối đời.


Người ta vẫn biết rằng ngay cả Đức Giê Su lúc còn sinh thời đã chưa một lần lên tiếng đề cập đến chuyện này như một đòi hỏi, một điều kiện của hàng tư tế. Trong số mười hai vị tông đồ tiên khởi của những ngày sáng lập Giáo hội, chỉ có một mình ông Gio An là tự ý sống độc thân. Và rồi, suốt bao nhiêu thế kỷ, chính ngay các vị Giáo Hoàng cũng có gia đình vợ con như mọi người khác. Giáo Hoàng Hormisdas ở thế kỷ thứ sáu, theo sử sách kể lại, còn là cha đẻ của Giáo hoàng Siverius nữa là khác!


Nhưng rồi việc giáo sĩ độc thân trở thành một trào lưu và lối sống mới đi vào luật lệ. Người ta trưng lời Phúc âm nói rằng làm môn đệ Chúa (hiểu là các giáo sĩ) tuy phải sống ở giữa đời, nhưng không được giống đời. Ai nấy tin tưởng rằng những kẻ hy sinh việc thê nhi gia thất cũng như tài sản lỉnh kỉnh sẽ được ơn trên ban thưởng gấp trăm, mà ban ngay từ cõi đời này.


Thế là, dù bên Đông hay bên Tây, dù bi quan hay lạc quan, dù xuất thế hay nhập thế, người đời nghiễm nhiên hiểu TU là ĐI TU, là hy sinh chuyện gia đình, là chấp nhận một đường sốngkhác biệt với đồng loại.

Triết gia Kim Định đã có lần lên tiếng nhận xét rằng sớ dĩ đi tu khó là vì nguyên chữ ĐI đã nói lên một quãng cách phải đi mới tới. Còn chuyện TU thì luôn tạo cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược của lý giới và trần giới trong chính tâm tư mình. Thế là có cái nhị nguyên đối kháng, bắt chọn một bỏ một, thành ra khó khăn, đòi hy sinh lớn lao và luôn bao hàm ý nghĩa 'giết chóc', cái ý nghĩa của chia ly từ bỏ, quen gọi là 'ly gia cắt ái'.



Nói chung, theo bên Thiên Chúa giáo, đi tu được coi là một chuyện dấn thân can đảm, một quyết định trưởng thành sau khi đã tìm hiểu đắn đo, khác hẳn đa số các trường hợp mà ta thường gặp ở bên Đông phương, ít ra nơi quảng đại quần chúng thường hiểu biết về việc đi tu như một trốn chạy trần đời, mong đạt niềm giải thoát nội tâm, dẫu rằng bên môn phái Đại Thừa nhà Phật về sau ráng đẩy mạnh và khích lệ việc nhập thế giúp đời.


Đức Phật Thích Ca chưa một lần lên tiếng kêu gọi các Phật Tử bỏ nhà đi tu như một giải pháp chắc ăn để tới Nát Bàn.

Đức Giê Su, khi lập Giáo hội, cũng không hề chính thức đề cập tới một lơi sống nào khác hơn cuộc sống gia đình bình thường.


Nhưng tiến trình tôn giáo đã phát sinh những sáng kiến và thể thức mới mà một số tín hữu tin là có khả năng giúp con người tiếp xúc thường xuyên và hữu hiệu hơn với cõi linh thiêng.



Chẳng may, lịch sử đã để lại bao nhiêu chuyện thương tâm đáng tiếc hay những gương xấu đau lòng liên hệ đến nhiều cá nhân đã vụng đường tu hay chọn lầm lối đi dẫn vào chốn thiền viện. Nhưng cũng một lịch sử ấy đã chứng kiến vô số những vị chân tu nức danh tài đức, gây ảnh hưởng cao đẹp cho bao nhiêu thế hệ. Bên Việt Nam mình, một thiền sư Vạn Hạnh đã có thuở lừng vang chẳng những về đức độ cá nhân, mà còn về những công trạng đóng góp vào việc ích quốc lợi dân. Còn bên Tây phương thì không kể sao cho hết tên tuổi những vị tu hành, dù đã được phong thánh hay chưa, đã từng gắn liền với việc bảo tồn và phát triển văn hoá cũng như nền văn minh của thế giới. Hình ảnh một Bênêđictô viện phụ đã từng ngự trị trong tâm trí thế giới Âu tây có lẽ suốt từ thời trung cồ đến cận kim. Bóng dáng một Phan Xi Cô khó nghèo cơ hồ đã đem lại bầu khí tươi mát an hoà cho cả thế giới, và rồi gần đây, một Vincent de Paul của lớp dân nghèo, một Don Bosco của giới thanh thiếu niên, một Damien của đám người phong cùi xấu số, và ngay cả hôm nay nữa, một mẹ Têrêxa bên xứ Ấn Độ xa xôi... , nhất nhất đều gây kinh ngạc lâu dài cho người đời muôn thuở.


Ở đây, người ta nhìn ra được ý nghĩa của chuyện 'chân tu’.


Chẳng Chúa Phật nào bắt người ta đi tu, nhưng một khi nhận thấy rõ ĐI TU là con đường tắt để tìm về lý tưởng đạo giáo, người ta sẽ có đủ lý do để hoan hỉ lên đường.


Tôi là người cũng có một đạo giáo để kính tin trong hồn. Thượng Đế của tôi, Thiên Chúa của tôi đã ngự trị trong tâm hồn tôi từ thuở lọt lòng mẹ. Tôi đã không có cái niềm tin nồng nhiệt của những vị Tử đạo ngày nào. Tôi cũng chưa có tâm tình say mến nóng hổi của những vị Tông đồ xông pha sương gió truyền giáo ngàn phương. Cho đến hôm nay tôi vẫn thấy mình yếu hèn thờ ơ như chưa được một lần chỉ dạy cho bài học can đảm dấn thân. Tháng ngày của tôi vẫn mãi là những ngày tháng của lo sợ rụt rè, của ngờ vực toan tính. Tôi cũng đang tập tễnh cất bước theo Chúa, nhưng chỉ muốn làm những tên lính đồn trú nơi hậu phương an toàn, mà chưa một lần dám xung phong đi trước giữa lằn tên mũi đạn. Tôi giao tiếp với Chúa giống như người lái buôn mặc cả hàng hoá, lúc nào cũng sợ lỗ lã thua thiệt, mới cho đi một chút xíu mà tôi đã nghĩ là nhiều. Mới cố gắng một tí teo nhưng tôi đã cho là quá đủ.



Thế nhưng, đã một lần trong đời tôi lắng nghe được một tiếng gọi như thầm nhủ bên tai. Tôi đã phần nào hiểu được nội dung và ý nghĩa của lời gọi và rồi tôi đã ra đi. Tôi đã theo dấu chân của tổ phụ Abraham xưa một lần bỏ quê hương lên đường tới nơi Chúa muốn ông tới, dẫu rằng tôi không có lấy một phần nhỏ đức tin kếch xù của ngài tổ phụ.


Lên đường theo Chúa mà lúc nào lòng tôi cũng hoang mang như tâm trạng chàng Kinh Kha lúc vượt sông Dịch Thủy qua Tần, dẫu rằng tôi chưa một lần có được cái hăng say cương quyết của người tráng sĩ nước Yên ngày nào.


Nhưng chẳng vì thế mà tôi ân hận đã chọn ĐI TU. Lý tưởng có lẽ còn xa mờ lắm, nhưng lúc nào cũng còn đó, để thách đố, để kêu mời.


Hỏi rằng mình có xứng đáng đi tu hay không thì tuyệt đối là tôi không đáng rồi. Nhưng nếu hỏi rằng phải chăng tôi chọn đi tu là để chạy trốn cuộc đời oan trái thì quả là không. Ngàn lần không. Cuộc đời luôn hiện ra đẹp và đáng yêu với tôi. Chẳng bao giờ tôi thấy có lý do để sợ hãi cuộc đời. Đã nhiều lần tôi nghĩ : Đời càng éo le và nhiều thử thách, mình càng nên đối diện và... thưởng thức cái thử thách éo le của đời.


Tôi nói thế vì quả thực cuộc đời xem ra chiều chuộng tôi lắm. Cơ hồ thứ gì mình cần và mong ước, đời cũng đem cho cả. Xuân, Hạ, Thu rồi Đông, mùa nào đến tôi cũng thấy cuộc đời hấp dẫn.


Tuy rất khoái thơ Tản Đà, nhưng đã có lúc tôi thấy ghét ông vì một lần ông lẩm cẩm viết bài thơ 'Đời đáng chán?'. Rất may, khi kết, ông đã ân cần xin bà con tái xét : "Nên chăng nghĩ lại kẻo lầm". Phải rồi, nhà thơ của sông Đà núi Tản ạ, nghĩ lại đi kẻo sẽ lầm to đấy! Đáng chán hay không đáng chán là tùy ở nơi hồn ta, trong tâm tư riêng rẽ của ta, chứ vô tình đổ vạ cho đời đáng chán thì thật oan quá!





Cũng bởi thế, tôi đã hứa với lòng rằng chẳng bao giờ sẽ bi thảm hoá đời mình bằng những lời khuyên nhủ có vẻ bi quan của ngài Thomas Kempis, cũng như không nên quá hồ hởi làm bạn với cái ông Qôheleth trong Cựu ước để ngày đêm cứ đem ra nghiền ngẫm mấy câu 'Đời chỉ là phù vân giả trá'!


Rồi các cụ Lão Tử, Lão Trang nữa đấy. Tôi hết tình kính trọng các cụ, nhưng nhất định tôi không bao giờ xin làm đồ đệ các cụ đâu. Có thể tôi chưa được hiểu các cụ cho thấu đáo, nhưng tôi chẳng cần. Chỉ nghe láng máng rằng các cụ chủ trương yếm thế, cần xa tránh đời, đã đủ làm tôi khó chịu rồi.


Tôi trộm nghĩ, dẫu cho đôi lúc ta thấy cuộc đời xuất hiện bằng cả mặt trái đi nữa, thì cái tâm tình phấn khởi cao đẹp trong hồn ta sẽ đủ sức để khoả lấp và bù đắp lại.


Tôi thú vị mỗi khi đọc tới truyện ông Vinh Khải Kỳ đã một lần làm cho chính đức Khổng Tử giật mình vì cái phong thái lạc quan khoan khoái của ông. Họ Vinh đã dạy tôi bài học 'tự sung sướng' khi ông bảo mình lúc nào cũng mãn nguyện khi thấy được sinh làm người cao quý hơn muôn vật khác, rồi lại được làm nam nhi chứ không là phận nữ (theo quan niệm cổ thời xưa) và lại là người mạnh khoẻ lành lặn chứ không ốm yếu tật nguyền.


Quả thật, tôi chẳng hề quyết định đi tu vì chán đời. Nếu nói rằng tôi đã lên đường đi tu bởi quá yêu đời thì chẳng mấy ai tin, và lại ra cái vẻ mình khoe khoang kệch cỡm, nhưng thực sự có đúng tí ti.


Tôi vẫn biết cuộc sống bình thường của một người tín hữu cũng là đường có thể đưa đến cõi thiên thai nát bàn hay thiên đàng vĩnh cửu, nhưng tôi đã nghĩ mình đi tu là để góp phần tích cực hơn vào việc xây dựng vững chắc con đường đó, cả cho tôi và cho người khác.


Tôi vẫn hiểu tu là cội phúc, đúng như ý nghĩa nguyên thủy của tác giả truyện Kiều: vẫn thấy cuộc sống hạnh phúc chỉ là kết quả của một đời chăm lo tu sửa đức hạnh và trau giồi tâm tính, cùng với việc chu toàn bổn phận và yêu thương tha nhân. Thế nhưng tôi đã chọn xuất gia đi tu để có dịp chia sẻ cùng tha nhân trong cố gắng tu sửa và trau giồi đó, để được dễ dàng mà gần gũi họ hơn, trong cái tiến trình yêu thương cao đẹp giữa người với người.








Tôi thấy rất thích thú khi được nhìn tận mắt và được thông phần bằng cả chính con người của mình. Do đó, tôi đã thấy như chính tôi được an ủi khi có dịp sẻ chia niềm ủi an cũng như trao gửi lời khích lệ, vỗ về.


Tôi biết mình chẳng cần phải được phong thánh trước rồi mới có quyền nói chuyện linh thiêng tâm hồn với người khác. Tôi cũng vốn tin rằng đường tôi đang đi sẽ bị vây phủ bằng nhiều chông gai thử thách, bị bao quanh bởi nhưng phút giây căng thẳng, chán chường. Nhưng một niềm tin nhỏ bé vẫn ngày đêm le lói trong tâm tư, để tôi vẫn giữ được bước chân khỏi xiêu vẹo hay qụy ngã.


Mỗi phút, mỗi giây, tôi vẫn ý thức rằng tu thì tu, nhưng cái tình nó chẳng hề ngưng quấy rầy và đe doạ kéo lôi cùng trói buộc tôi vào vòng oan nghiệp sai lầm. Câu phong dao vui vui nào đó của dân tộc vẫn hằng dội tiếng trong lòng tôi : Lênh đênh qua cửa Thần Phù, Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.


Không biết ngày nào mới có thể nói được là mình đã khéo tu, nhưng các tấm gương vụng tu của một số đàn anh hay đồng nghiệp vẫn mãi là những bài học sống động trước mắt. Có lẽ cái đáng sợ hơn cả với tôi hôm nay là nghĩ rằng mình đã thực sự khéo tu, đã cơ hồ thành chánh quả. Cave ne cadat. Câu thành ngữ La Tinh này cũng như hệt lời dạy của sách thánh : Ai tưởng mình đứng vững thì sẽ ngã.


Đó là lý do để tôi không hề dám lãng quên bổn phận tu thân làm người trước khi bước ra đường với bộ áo nhà tu. Lời khấn hứa ngày thụ phong vẫn ngày đêm canh cánh bên lòng. Trách nhiệm phải nên toàn thiện thôi thúc tôi mỗi phút giây phải vươn lên hầu giúp anh em đồng loại được thêm thiện toàn.


Điều đó đòi tôi phải tìm ra chính con người của mình, nguyên vẹn, không điểm tô thêm bớt, để thấy rõ mình đang thuộc vào trạng thái nào trên bước đường tu thân. Mỗi buổi xét mình là mỗi buổi phải tủi hổ xót xa. Mỗi lần phanh phui là một lần cay đắng, ê chề. Biết bao lần thấy mình tiến được một bước ngắn rồi lại thụt lùi tới hai, ba bước dài.


Để đua tranh cùng bạn bè, để so tài với anh em, tôi đã nhiều phen sống như đóng kịch, diễn tuồng. Tôi đã từng đua đòi để dàn cảnh, để che đậy, mong được đôi tiếng khen lao, hay ít ra tránh khỏi bị chê bai bình phẩm. Hôm nay, tôi lại một lần phải phơi bầy cái TÔI để hiểu mình hơn và rồi nhận đinh rõ hướng mà đi.


Xuất gia đi tu nào phải là chuyện trẻ con. Đâu phải chỉ là một phút quyết định bốc đồng hay giỡn đùa theo bè bạn. Thực sự nó đòi tôi phải TU hai lần. Hay nói đúng ra, TU gấp đôi cái tiêu chuẩn của cụ Nguyễn Du, hầu mong có ngày nhìn được ... cội phúc.

Chỉ có như vậy mới giải thoát tôi, và những người tôi giao tiếp, khỏi vòng giây oan khốn khổ.